Bàn về vận mênh con người theo quan điểm dịch lý học đông phương


Vận và Mệnh của con người theo quan điểm của dịch lý học Đông Phương thuở xa xưa ở Trung Quốc là những khái niệm trừu tượng và huyền bí vì nó có nguồn gốc từ truyền thuyết Hà Đồ – Lạc Thư mà cuốn kinh dịch đã tình bày. Ngày nay nhiều người ở nước ta không phân biệt được thế nào là Vận và thế nào là Mệnh và nội dung cơ bản của Vận và Mệnh khi kết hợp lại với nhau thì tạo thành cái gì của cuộc đời con người, và như thế họ gọi nôm na là con người có số mệnh cả. Điều này rất đúng nhưng cơ sở lý luận của nó thì không ai lý giải rõ ràng và cụ thể, vì thế mỗi người hiểu một cách rất khác nhau. Trước khi làm rõ vấn đề số mệnh thì ta nên hiểu một khái niệm Vận và Mệnh của dịch lý học Đông Phương cổ xưa.

Theo từ điển Từ nguyên của Trung Quốc thì chữ Vận có nghĩa là sự chuyển đổi xoay vần theo một chu kỳ khép kín của không gian và thời gian, đó là sự xoay vần chuyển dịch không bao giờ ngừng nghỉ theo một qui luật trật tự nhất định như mặt trời mộc ở Phương Đông và lặn ở Phương Tây hoặc như cuộc sống tốt xấu của con người luôn biến đổi theo thời gian. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Sông có khúc người có lúc” là điều muốn ám chỉ thời vận của không gian và thời gian hoặc sự thăng trầm cuộc đời của từng con người, đó chính là thời vận.

Dịch lý học Đông Phương quan niệm Mệnh tức là muốn ám chỉ mệnh trời. Mệnh trời muốn ám chỉ những gì đã có sẵn mà sức người, ý muốn của người không thể thay đổi được. Phàm những gì tốt, xấu, may, rủi, thọ, yểu, giàu, sang v.v… hình như có cái gì đó do “ông trời” chủ trương định sẵn mà không thể có một thế lực nào (dù là ý chí, sức mạnh của con người) xoay chuyển nổi. Đức Khổng Tử trên 50 tuổi mới nghiên cứu kinh dịch và thốt lên rằng: “không biết mệnh trời thì không phải là người quân tử”. Vậy mệnh trời là cái gì mà Khổng Tử phải thốt lên như vậy? Chắc là quan trọng lắm và cần thiết lắm, hữu ích lắm nên ông mới nói như vậy. Truyền thuyết Hà Đồ – Lạc Thư của dịch lý học Đông Phương chế tác ra 8 quẻ bát quái, 8 quẻ này mô tả năng lực vĩ đại của trời đất thông qua sự biến dịch của ngũ hành, đồng thời làm xuất hiện thuyết Tam tài “Thiên – Địa – Nhân” là thuyết đề cao sức mạnh của con người sánh ngang với trời đất. Do đó dịch lý mới có câu “Thiên địa nhân đồng nhất thể”. Trời có đạo của trời, đất có đạo của đất, người có đạo của người, đó là tam giáo đồng qui và hình thành Thiên đạo – Địa đạo – Nhân đạo, trong đó Nhân đạo là quan trọng nhất, vì thế dịch lý mới nói “có Trời mà vẫn có Ta”, tức là Ta sánh ngang với Trời đất. Vậy nên mệnh trời ở đây phải hiểu là qui luật biến đổi của hai khí âm dương của vũ trụ quan; sự biến đổi này làm ảnh hưởng tới cuộc sống của con người nên gọi là mệnh trời.

Dịch lý học nói rằng: “Trời đất đều có số cả, huống chi là con người”. Ta phải hiểu rằng số trời thuộc dương, số đất thuộc âm, số của người là kết tinh của 2 khí âm dương của trời đất hội tụ lại trong đó, vì thế mới nói người sánh ngang với trời đất.

Trời đất là vũ trụ quan, con người là nhân sinh quan, vậy nên vũ trụ quan thì không bao giờ yên tĩnh mà phải biến đổi theo không gian và thời gian, vì thế kéo theo sự biến đổi của cuộc sống con người. Phải chăng đấy là sự giao thoa giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan để tạo thành số mệnh tốt xấu của con người.

Hai yếu tố Vận và Mệnh của con người tác hợp lại với nhau để tạo thành số mệnh của con người là điều trừu tượng và khó hiểu vì cùng một yếu tố thời gian và không gian như nhau thế mà cuộc sống của con người lại khác nhau là vì sao?

Bàn về vận mệnh hay số phận của con người là điều phức tạp. Nhà dịch lý học Trung Quốc cổ xưa là Vương Sung có nói: “các vật sinh ra đều do hình thể tương đương để duy trì cái khí chất chứa trong đó. Hình thể lúc mới thành chứa sẵn cái vận mệnh và tính chất đặc biệt của nó, cái khí, cái thể cùng với cái hình hài bao bọc lẫn nhau, vì thế sự sống chết, thọ yểu đều có kỳ tiết của nó, cùng chịu cái nguyên khí của trời đất thế mà hoặc làm người hoặc làm cầm thú, cùng làm người mà có người sang kẻ hèn, có người giàu và kẻ nghèo, giàu đến vạn ức, nghèo đến mức không có cái mà ăn, sang đến mức độ phong hầu quyền quí, hèn đến mức phải làm nô lệ. Đó là điều không phải trời thiên vị gì cả, mà chỉ là người ta hấp thụ cái tính của trời hậu hay bạc mà thôi. Vậy cho nên có người làm việc đạo đức mà tai họa vẫn cứ xảy ra, cùng làm điều nhân nghĩa mà sự lợi hại không đồng đều nhau, đó là do cái Mệnh đã định sẵn. Người có Mệnh tốt thì cuộc đời thường gặp điều tốt, người có Mệnh xấu thì thường gặp điều xấu. Vì thế nếu Mệnh quí thì dù phải sống ở chổ hèn kém mà vẫn thành đạt như thường, Mệnh hèn kém thì dù ở chổ giàu sang mà thường vẫn gặp gian nguy. Người có Mệnh quí thì cùng học với người ta mà chỉ có một mình mình thành đạt, cùng làm quan với người ta mà chỉ có một mình mình phong tặng. Người có Mệnh giàu thì cùng tìm mà chỉ một mình mình được, cùng làm mà chỉ có một mình mình nên. Mệnh nghèo mà cố dùng sức , dùng âm mưu thủ đoạn để làm nên giàu sang đến khi được thì là chết. Mệnh hèn mà cố dùng tài năng, mưu trí, thủ đoạn để làm nên giàu sang đến lúc được giàu sang là thân phải nguy. Vậy nên sự họa phúc, quí tiện của người ta la do cái mệnh nó khiến ra, vì thế mới có sự tao phùng và hội ngộ. Phàm người ta bị những điều tai họa là do Mệnh vậy, có Mệnh thọ, yểu, sang, hèn, giàu, nghèo,…vậy không nên lấy sự hiển đạt của mình mà cho là tài giỏi và sự bần cùng mà cho rằng ngu dại. Do Mệnh mà ra cả.”

Các học giả nổi tiếng của Trung Quốc như Chu Hy, Thiệu Ung, Trần Đoàn v..v… đều dùng dịch lý của kinh dịch làm nền tảng để bàn luận về Vận và Mệnh của con người. Họ thống nhất quan điểm là có mệnh trời và cũng có cả sức người. Mệnh trời là sự tiền định có sẵn từ khi con người mới sinh ra. Sức người là những khả năng, ý chí tiềm ẩn bên trong (nội lực).

Mệnh trời và sức người giao thái với nhau theo thời vận mà làm nên số phận hay dở của con người; vì thế Khổng Tử mới nói “Dịch vị chi thư nhất cả thời”, tức dịch là sách nói về sự biến đổi của trời đất và vạn vật theo thời vận. Truyên Kiều của Nguyễn Du có câu: “Cho hay muôn sự tại Trời” hoặc “Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Phải chăng đó là vận mệnh tốt xấu của con người là do trời định. Vận mệnh của con người luôn gắn liền với thời vận của cuộc đời, vì thế tục ngữ có câu “Bôn ba không qua thời vận” là vậy.

Nho giáo thì cho rằng đạo trời và đạo người là giống nhau nên luôn răn dạy con người phải có đức nhân thì mới tạo được phúc (giàu – yên vui – sống thọ – có đức tốt – vui hết tuổi đời). Nếu có đức Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín thì mới có được trí tuệ, ý chí và sức mạnh để khắc phục những gian khổ của cuộc đời mà chế ngự được vận mệnh xấu của mình. Đó chính là “Đức năng thắng số” của con người.

Nói tới vận và mệnh của con người trong cuộc sống tức là nói tới sự cát hung, họa phúc, may rủi, thọ yểu v.v… mà con người gặp phải trong cuộc sống theo từng chu kỳ của cuộc đời. Người Phương Tây cũng công nhận có sự may rủi mà nó luôn ở ngoài sức hiểu biết của họ và họ không thể kiểm soát hoặc chứng minh được nó vì thế ở Phơng Tây cũng xuất hiện các nhà “chiêm tinh” để sự báo những điều may rủi của cuộc đời con người.

Người Phương Đông thì quan niệm sự may rủi đều có nguồn gốc của nó và người ta còn tiên liệu được khoảng không gian và thời gian mà nó xuất hiện. Dịch lý học Phương Đông nói rằng: “hữu vật hữu tắc”, tức là các sự kiện tốt hay xấu của vận mệnh con người xuất hiện ra thì điều phải có nguyên nhân của nó. Thuyết Nhân quả – Luân hồi của nhà Phật thì quan niệm mọi hành vi dù tốt hay xấu sinh ra chính là hệ quả của nguyên nhân đã gây ra trước đó, nó là căn nguyên hoặc như là định mệnh của con người được thụ hưởng mà kiếp trước đã giao cho nó. Thuyết Nhân quả – Luân hồi của nhà phật là thuyết công bằng bình đẳng và bác ái vì “gieo gì thì gặp nấy” do đó muốn có vận mệnh tốt thì các hành vi của đời thường phải tốt, đó là điều tất yếu khách quan.

Dịch lý học Đông Phương quan niệm về vận mệnh của con người trên một tầm mức cao, bao quát và vượt ra khỏi các qui luật nhân quả thông thường vì nó là triết lý nhân sinh quan cuộc sống con người gắn liền với sự vận động của vũ trụ quan. Nó chính là tư duy lý luận của học thuyết Âm dương – Ngũ hành và truyền thuyết Hà đồ – Lạc thư của kinh dịch, không thể dùng các kiến thức thông thường để bàn về vấn đề họa phúc của con người vì thế nó đòi hỏi phải có những tri thức cao hơn vượt ra ngoài những cái bình thường thì mới giải thích được nó. Đó là những tri thức tổng hợp như: trên thì thông hiểu về thiên văn, dưới thì am tường địa lý, thông thạo các học thuyết tam giáo cửu lưu và bách gia chư tử v.v… thì mới đủ sức để bàn về vận mệnh của con người.

Phương Tây ở thế kỷ thứ IV trước Tây lịch, nhà hiền triết ở Hy Lạp là Heraclite đề xướng học thuyết lấy sự biến hóa của vũ trụ làm nền tảng của lý luận và cho rằng vạn vật luôn vận động chứ không đứng yên.

Ngoài sự biến hóa của vạn vật ra thì không có cái gì là thực cả. Sau này Socrate đề xướng đạo nhân sinh triết học, lấy nhân sự làm trọng, các việc ngoài nhân sự là việc của trời. Tại nước Đức ở thế kỷ 17 – 18 thì Hegel đưa ra học thuyết cho trời và vạn vật đồng một thể và cái bảo thể của trời được thể hiện ra trong sự biến hóa của vạn vật. Như vậy cả Đông Phương và Tây Phương đều cũng quan tâm đến trời và người là hai yếu tố cơ bản để hình thành hai hệ tư tưởng giữa Đông và Tây. Sự khác nhau dị biệt là yếu tố con người ở triết học Tây Phương thì không liên quan gì tới trời, vì thế họ không cần quan tâm tới vận và mệnh của con người mà chỉ quan tâm đến khả năng và ý chí của con người đó mà thôi. Đông Phương thì không thế vì họ gắn cuộc sống nhân sinh của con người có liên quan và chịu sự tác động của trời do đó làm xuất hiện vận và mệnh của con người. Hai quan điểm đó bên nào đúng bên nào sai thì còn lâu mới phân định được chỉ có điều triết học Tây Phương rất thực dụng và thực tế nên con người của họ rất năng động và sáng tạo trong công cuộc kiếm tiền và tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Vì quá quan tâm trong việc tìm kiếm vật chất nên họ không hề quan tâm đến vận và mệnh của con người, được thua, may rủi, là chuyện thường tình ở đời.

Họ cũng thấy được và thừa nhận có sự may mắn xuất hiện trong cuộc đời và ngay cả trong việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nhưng họ không tìm cái nguyên nhân của sự may mắn đó. Đa số người Phương Tây chỉ tin vào năng lực và trí tuệ của họ, vì đó là yếu tố cơ bản để tìm kiếm của cải vật chất và cải tạo xã hội, đó là điều đúng nhưng hầu như còn thiếu một điều gì đó phải chăng là yếu tố tinh thần và yếu tố tâm linh của luật nhân quả. Do đó họ mặc sức làm chiến tranh và chiến tranh là gây ra sự đâu khổ cho nhân loại nhưng với họ thì thu về vô số lợi nhuận. Sự làm giàu của họ bất chấp tính đạo lý, tính nhân văn mà chính đức chúa trời hay đức phật đã ngăn cản. Thực tế bằng mắt thường ta cũng thấy được rằng ông trời ở Phương Tây và Phương Đông cũng chỉ là một mà thôi, ông trời chung cho cả nhân loại có ban phát họa hay phúc cho riêng phương nào đâu, không hề thiên vị cho riêng ai, thế mà các nước Phương Tây thì giàu có và các nước Phương Đông thì nghèo khó và chậm phát triển. Tại sao vậy? Tại vì do con người của mỗi phương có tầm nhận thức về vận và mệnh của cuộc đời khác nhau. Phương Đông con người được giáo dục theo truyền thống văn hóa của nho giáo, lấy Đức – Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín làm nền tảng đạo lý của cuộc đời và tin vào luật nhân quả luân hồi của phật pháp nên họ tin vào vận mệnh. Vận mệnh của con người Phương Đông gắn liền với đạo trời, đạo đất và đạo người nên tất cả các hoạt động, các hành vi xử sự của con người đều phải tuân theo kỷ cương và luân thường đạo lý của ông bà tổ tiên từ xưa để lại, lâu dần trở thành thói quen ràng buộc họ từ gia đình đến xã hội. Dễ gì thay đổi được tập tục và lễ giáo đã ăn sâu vào tâm thức của hàng ngàn đời nay. Do đó người Phương Đông không dám làm những gì khi mà họ chưa biết được hậu quả của nó là thế nào vì họ sợ bị báo oán của kiếp luân hồi, vì thế họ bị ràng buộc bị hạn chế bởi nền tảng đạo lý của gia đình và xã hội. Tuy của cải vật chất của xã hội chưa cao nhưng nền tảng đạo đức gia đình và xã hội được giữ vững và tính nhân văn của con người ngày càng được hoàn thiện cho dù ngày nay các nước Phương Đông đang phát triển trên con đường kinh tế thị trường đầy âm mưu thủ đoạn và cạm bẩy của các thế lực thù địch. Đạo đức Nhân – Nghĩa - Lễ – Tín của người Phương Đông là tính nhân văn cao cả của loài người để hướng tới mục tiêu “Chân – Thiện – Mỹ” của cuộc sống nhân loại sau này, đó là nguồn sống trường tồn, là báo vật mà của cải vật chất không thể mua được.

Quan điểm vận và mệnh của con người của Phương Đông là một hệ thống tư tưởng dịch lý được truyền từ đời này qua đời khác, được các bậc thánh nhân kế thừa và phát triển qua các thời đại kế tiếp nhau. Nó là nguồn gốc từ đạo dịch và được nho giáo triển khai để ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực Kinh tế, Chính trị, Xã hội và Văn hóa. Theo nho giáo thì cái đức lớn của trời đất, sự giao cảm của âm dương, sự hội nhập của quỉ thần, các tinh khí của tinh tú (nhị thập bát tú), các lĩnh vực khí của ngũ hành (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ), các tinh túy của địa linh nhân kiệt v.v… tất cả những cái đó được hội tụ ở con người, nên con người mới có khí chất tinh anh hơn vạn vật và do đó con người mới có trí tuệ sáng suốt để nhận thức được sự biến đổi của vũ trụ và sự hóa sinh của muôn vật muôn loài. Nho giáo tin rằng trời là chủ thể của mọi sự biến đổi nên kéo theo sự biến đổi vận mệnh của con người vì thế mới có muôn vàn sự khác nhau về số phận của con người. Khổng Tử sau khi nghiên cứu đạo dịch đã thốt lên rằng: “không biết mệnh trời thì không phải là người quân tử”, mệnh trời theo khổng tử là thiên mệnh, cái mà trời tạo ra qui luật biến đổi của hai khí âm dương, nếu hiểu nó và vận dụng được nó trong cuộc sống thì nó sẽ giúp sức cho con người, nếu không hiểu nó và không dùng được nó thì sẽ làm hại người, vì thế mới nói ông trời có thiên vị gì ai đâu, do đó chỉ có hiểu và không hiểu được mệnh trời mà sinh ra số mệnh sang hèn khác nhau. Dịch hệ thượng nói “thuận với trời thì sống, nghịch với trời thì chết”, đó là do thiên mệnh của trời để sinh ra vận mệnh của người.

Theo Khổng Tử thì người quân tử là người biết mình (biết vận và mệnh của mình), biết người (biết cái sở trường và sở đoản của người mà mình quan hệ), biết trời của trời (biết sự thay đổi của thời mệnh); còn kẻ tiểu nhân thì không thế vì họ chỉ biết có vụ lợi cho cá nhân mà thôi, do đó kiếm tiền kiếm địa vị xã hội là mục tiêu cao cả của cuộc sống và bất chấp tất cả các âm mưu và thủ đoạn thâm độc để hại người và hại đời để cuối cùng là hại mình, đó là con đường đi tới của kẻ tiểu nhân.

Vận và Mệnh của con người có liên quan với thiên tính của trời và có mối liên quan tác động lẫn nhau. Thiên tính của trời là yếu tố ngoại lực tác động vào vận mệnh của con người . Sức người và trí tuệ của con người là yếu tố nội lực, hai yếu tố này phải kết hợp hài hòa với nhau, nhưng nội lực là yếu tố quyết định mọi sự thành bại của cuộc đời. Vì thế các bậc thánh nhân có nói “Nhân định thắng Thiên” là điều có thực nhưng không phải là tất cả.

Phương Đông quan tâm tới vận mệnh của người nên các bậc triết gia luôn tìm cách khám phá các qui luật xuất hiện sự tốt xấu của vận mệnh, do đó đã xuất hiện nhiều trường phái bói toán khác nhau để cố tìm cho được sự tốt xấu của vận mệnh con người.

Thời Bắc Tống ở Trung Quốc xuất hiện một bậc vĩ nhân đó là Trần Đoàn, ông này xuất gia tu hành ở núi Phá Sơn và là người sáng tác ra Tử vi đẩu số. Trần Đoàn là người tinh thông các môn thiên văn, địa lý, lịch số, ngũ hành, tạp chiêm và hình tướng học. Những môn học này có chung nguồn gốc từ dịch lý học tức là sự biến dịch của vũ trụ quan làm ảnh hưởng tới nhân sinh quan cuộc sống con người, đó là nguồn gốc cơ bản để hình thành số mệnh của con người mà Trần Đoàn đã mô tả trong tử vi của ông.

Tử vi của ông là bản đồ mô phỏng cuộc đời của một con người từ lúc mới sinh ra cho đến lúc già cả và mất đi; trong đó chứa đựng sự thịnh suy, may rũi, họa phúc mà cuộc đời phải trải qua, đồng thời mô tả mối quan hệ cá nhân với gia đình, bạn bè, xã hội, công ăn việc làm, nhân duyên vợ chồng, con cái v.v… thôi thì đủ thứ ở trên đời mà cuộc sống của con người phải trải qua. Tại Việt Nam những người am hiểu tử vi trước đây cũng rất nhiều, người nổi tiếng nhất là cụ Lê Quý Đôn, người viết bộ tử vi có tên là “Thần Khê Định Số”, bộ này đã bị thất truyền chỉ còn xót lại một ít lưu truyền trong dòng tộc mà thôi. Bản chất của tử vi mang tính chất khoa học của dịch lý Phương Đông nên việc dự báo vận mệnh của con người là chính xác vì nó vừa có cơ sở lý luận và được thực tế kiểm chứng có điều rất khó nên không phải ai cũng làm được.

Tóm lại những điều đã nêu ở trên là các quan điểm của hai hệ tư tưởng triết học Đông và Tây khi bàn về mối quan hệ giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan cuộc sống và nêu lên vấn đề vận mệnh của con người mà muôn đời nay người ta đang bàn luận và cố tìm cho ra sự thật của nó.

theo nguồn từ internet

Từ khóa bài viết: ,tử vi,xem tướng,vận mệnh
26/2